Columbus tìm ra châu Mĩ


Columbus tìm ra châu Mĩ

Các nhà thám hiểm được tài trợ bởi những người trị vì Tây Ban Nha, Vua Ferdinand xứ Aragon và Hoàng hậu Isabel xứ Castile, đã khám phá ra Tây Bán Cầu cho châu Âu. Là những người trị vì thời kì Phục Hưng, Ferdinand và Isabel coi sự thống nhất của quốc gia và thương mại quốc tế là chìa khóa cho quyền lực và thịnh vượng. Cưới nhau theo sắp đặt để kết nối các vương quốc Thiên chúa giáo lại với nhau, những nhà cầm quyền trẻ tuổi đã hoàn thành cuộc chinh phạt(reconquista) kéo dài hàng thế kỉ chiếm lại đất từ tay người Hồi giáo Bắc Phi. Năm 1492, quân đội của họ đã chiếm được Granada, vùng đất cuối cùng của người Hồi giáo ở Tây Âu. Sau đó, họ mở các Tòa án dị giáo tàn bạo kết án những người không theo đạo Thiên chúa và trục xuất hoặc cải đạo hàng ngàn người Do Thái và Hồi giáo.

Đồng thời, Ferdinand và Isabel đi tìm thương mại và đế chế bằng cách tiếp nhận Christopher Columbus, một nhà hàng hải đến từ Genoa. Hiểu sai những phát hiện của các nhà địa lí Italia, Columbus tin rằng Đại Tây Dương, vốn gieo rắc nỗi sợ hãi cho các nhà buôn Ả Rập như một vùng biển tối tăm vạn dặm, thực ra là một vùng biển hẹp hơn nhiều ngăn cách giữa châu Âu và châu Á. Mặc dù vẫn còn hồ nghi học thuyết của Columbus, Ferdinand và Isabel vẫn hỗ trợ tài chính cho những nhà buôn Tây Ban Nha và phái ông đi tìm con đường phía Tây tới châu Á.

Columbus xuất phát với 3 con tàu nhỏ vào tháng Tám 1492. Sáu tuần sau, sau một chuyến đi đầy hiểm nguy, ông đáp vào một hòn đảo mà ngày nay là Bahamas. Tin rằng mình đã tới châu Á- “The Indies” theo cách gọi của thế kỉ 15- Columbus gọi dân bản xứ là Indians và những hòn đảo ở đây là Tây Ấn- West Indies. Ngạc nhiên bởi điều kiện sống hoang sơ của người bản địa, Columbus kì vọng họ sẽ dễ dàng trở thành tín đồ Thiên chúa. Tổ chức lễ nghi long trọng, ông tuyên bố những hòn đảo này thuộc về Tây Ban Nha và là vương quốc thiên chúa giáo bằng cách đặt tên chúng theo những dòng họ hoàng gia Tây Ban Nha và các ngày lễ thánh Thiên Chúa giáo. Columbus sau đó phát hiện ra các hòn đảo Ca-ri-bê lân cận và yêu cầu những người Taino, Arawak và Carib địa phương cống nạp. Được kích thích bởi những câu chuyện của người bản địa về những dòng sông đầy vàng nằm ở phía Tây, Columbus đã để 40 người lại đảo Hispaniola(ngày nay là Haiti và cộng hòa Dominica) và quay về Tây Ban Nha trong khúc khải hoàn.

Mặc dù Columbus không mang được vàng về, vương triều Tây Ban Nha vẫn hỗ trợ thêm ba chuyến đi nữa. Trong những cuộc viễn chinh này, Columbus bắt đầu quá trình thuộc địa hóa Tây Ấn, đưa tới hơn một ngàn người Tây Ban Nha tới cư trú- tất cả đều là đàn ông- và hàng trăm con thú nuôi. Ông cũng bắt đầu buôn bán nô lệ xuyên đại tây dương, đem người Indian tới làm nô lệ ở châu Âu và người châu Phi tới làm thợ thủ công và nông dân ở những vùng đất người Tây Ban Nha mới khai phá. Tuy nhiên Columbus đã thất bại khi không tìm thấy bất cứ vàng bạc châu báu hay vương quốc vĩ đại nào, và cái chết của ông vào năm 1506 gần như không được chú ý.

Một nhà địa lí người Đức ngay lập tức đặt tên lục địa này là “America” theo tên nhà thám hiểm người Genoa, Amerigo Vespuccu. Vespucci, người đã thám hiểm vùng đất mới này vào khoảng năm 1500, đã phủ nhận rằng nó là một phần của châu Á. Ông gọi nó là nuevo mundo, một “thế giới mới”. Trong khi đó, quốc vương Tây Ban Nha gọi lục địa này là Las Indias(“the Indies”) và muốn biến chúng thành một thế giới Tây Ban Nha mới.

Cuộc xâm lược của Tây Ban Nha

Những nhà thám hiểm Tây Ban Nha cai trị người Ca-ri-bê bằng bàn tay sắt. Sau khi khuất phục người Arawaks và Tainos ở Hispaniola, người Tây Ban Nha thăm dò lục địa để tìm vàng và nô lệ. Năm 1513, Juan Ponce de León khám phá bãi biển Florida và đặt cho bán đảo này cái tên đó. Cũng trong năm này, Vasco Nusnez de Balboa băng qua Eo Darien(Panama) và trở thành người châu Âu đầu tiên nhìn thấy Thái Bình Dương. Những lời đồn đại về những vương quốc Indian giàu có ở bên trong đã là nguồn cổ vũ cho những người Tây Ban Nha khác, bao gồm cả những cựu chiến binh lão luyện trong cuộc chinh phạt reconquista,chuẩn bị cho một cuộc xâm lược. Họ nhận được sự ủng hộ của những người trị vì Tây Ban Nha, với lời hứa sẽ thưởng cho những người chinh phục thành công chức tước, đất đai rộng lớn và những người lao động Indian.

Hernán Cortés (1485- 1547) đã chinh phục cả một đế chế và hủy diệt cả một nền văn minh. Cortés xuất thân từ một gia đình quí tộc nhỏ ở Tây Ban Nha và để tìm kiếm những cuộc phiêu lưu quân sự và của cải đã giong buồm đến Santo Domingo vào năm 1506. Tham vọng và lôi cuốn, ông nổi bật trong chiến đấu, dập tắt một cuộc nổi loạn và phục vụ trong cuộc chinh phục Cuba. Những chiến công này cùng với đám cưới với một phụ nữ Tây Ban Nha có thế lực đã giúp Cortés có được đất đai rộng lớn ở Cuba và liên tiếp được thăng chức.

Năm 1519, Cortés đã nắm lấy cơ hội để được lãnh đạo cuộc chinh phạt lục địa. Ông đáp lên bờ cùng với 600 người gần vùng đất của người Maya ở Potonchan, và ông đã nhanh chóng khuất phục họ. Sau đó Cortés đã gặp may. Những người Mayan bị khuất phục đã dâng tặng ông những người nữ nô lệ để hầu hạ và làm vợ lẽ. Trong số đó có Malinoli, người phụ nữ trẻ có dòng dõi hoàng tộc và được một người lính Tây Ban Nha nhận xét “có vẻ ngoài dễ chịu, thông minh và hướng ngoại”. Malinali cũng nói tiếng Nahuatl, ngôn ngữ của người Aztec. Cortés đã lấy cô làm người hầu và người phiên dịch, và cô sớm trở thành người hướng dẫn cho ông. Khi người chỉ huy Tây Ban Nha nhờ Malinali biết được về qui mô của đế chế Aztec, mục tiêu của ông chuyển thành quyền lực chứ không còn là cướp bóc. Ông sẽ phế truất nhà vua của đế chế, Moctezuma, và giành lấy vương quốc của ông ta.

Vì sao Malinali lại giúp Cortés, sử sách không ghi chép lại. Giống những người Tây Ban Nha đi theo ông, có thể cô bị lóa mắt bởi tính cách mạnh mẽ của ông. Có thể cô tính toán rằng Cortés là hi vọng tốt nhất của mình để thoát khỏi kiếp nô lệ và giành lại được địa vị cao sang. Dù lí do là gì thì lòng trung thành của Malinali là điều không phải bàn cãi. Khi người Tây Ban Nha hành quân đến thủ đô của Aztec ở Tenochtitlán, cô đã mạo hiểm cả tính mạng của mình để báo cho Cortés về một cuộc tấn công bất ngờ trong thành phố ở Cholula, và cô giúp ông tìm được một con đường để đến được thủ đô Aztec. “Không có cô”, người chép sử của cuộc chinh phạt Bernal Díaz del Castillo kết luận, người Tây Ban Nha “sẽ không thể vượt qua một núi khó khăn như vậy”.

Sợ hãi trước sức mạnh quân sự của những kẻ xâm lược Tây Ban Nha, Moctezuma đón tiếp Cortés với lễ nghi long trọng, chỉ để trở thành tù nhân của ông. Khi những người ủng hộ hoàng đế cố gắng đánh đuổi những kẻ xâm lược, họ phải đối mặt với kĩ thuật quân sự ưu việt của châu Âu. Cảnh tượng những người Tây Ban Nha với đầy đủ áo giáp sắt, với những khẩu súng làm rung chuyển trời đất và gây ra những vết thương khủng khiếp, đã gây ấn tượng mạnh với người Aztec, những người biết làm sao để tinh chế vàng nhưng không biết làm cách nào để sản xuất những công cụ và vũ khí bằng sắt. Thêm vào đó, người Aztecs không có xe kéo hoặc kị binh, và những chiến binh của họ, chiến đấu trên đôi chân đất với những hòn đá hoặc những ngọn giáo và cung tên, không thể nào sánh được với những chiến binh Tây Ban Nha cầm kiếm thép và được hỗ trợ bởi những con chó dữ tợn. Mặc dù bị áp đảo về quân số và phải hứng chịu tổn thất nặng nề, Cortés và người của ông vẫn đủ sức đánh tới thủ đô Aztec.

Chiến thắng trong chiến trận là một chuyện, chinh phục một đế chế lại là chuyện khác. Nếu Moctezuma trị vì một đế chế thống nhất, ông đã có thể quét sạch 600 quân xâm lược Tây Ban Nha. Nhưng nhiều dân tộc Indian ghét đế chế Aztecs, và Cortés đã khéo léo khai thác lòng thù ghét của họ. Với sự giúp đỡ của Malinali, giờ được biết đến dưới cái tên đầy vẻ kính sợ theo tiếng Nahuatl là Malinche, ông đã lập nên một liên minh quân sự với những dân tộc mà của cải của họ bị những tên quí tộc Aztec chiếm lấy và người của họ bị hiến tế cho thần mặt trời Aztec. Đế chế Aztec sụp đổ, không phải vì kĩ thuật quân sự tân tiến mà vì một cuộc nổi loạn từ trong nội bộ được xúi giục bởi một Cortés xảo quyệt.

Người Tây Ban Nha còn có một đồng minh thầm lặng: dịch bệnh. Cách li khỏi lục địa Á-Âu hàng ngàn năm, người dân châu Mĩ không được đề kháng những căn bệnh châu Âu thông thường. Một đợt dịch bệnh đậu mùa lớn kéo dài bảy mươi ngày đã tàn phá Tenochtitlán sau cuộc di cư của người Tây Ban Nha, “tấn công mọi nơi trong thành phố”, theo một văn bản Aztec, và giết chết em trai của Moctezuma và hàng ngàn người khác.  Tiếp đó, sự bùng phát của bệnh đậu mùa, cúm và sởi đã giết chết hàng trăm ngàn người Indian và làm kiệt quệ tinh thần của những người sống sót. Tận dụng cơ hội này, Cortés nhanh chóng mở rộng ách thống trị của Tây Ban Nha lên đế chế Aztec. Những thuộc hạ của ông sau đó tiến đến những thành phố của người Maya ở bán đảo Yucatán, rồi cuối cùng cũng chiếm được chúng luôn.

Năm 1524, Francisco Pizarro lãnh đạo một cuộc chinh phạt của người Tây Ban Nha đến Peru, vùng đất của đế chế Inca giàu có và quyền uy, kéo dài 2.000 dặm dọc bờ biển Thái Bình Dương của Nam Mĩ. Để cai quản đế chế trải dài mênh mông này, những nhà cầm quyền Inca đã cho xây 24.000 dặm đường và hàng tá những trung tâm cai trị được xây cẩn thận bằng đá tốt. Một nhà vua Inca, tự nhận là thần thánh, cai trị đế chế với sự trợ giúp của một bộ máy quan chức là giới quí tộc. Khi Pizarro và lực lượng nhỏ bé với 168 người và 67 ngựa đặt chân tới Peru năm 1532, một nửa dân số Inca đã chết vì những căn bệnh châu Âu bị lây nhiễm từ những thương gia Indian. Với quân đội bị suy yếu và cuộc tranh giành kế vị ngôi báu, quí tộc Inca trở thành miếng mồi ngon cho quân đội của Pizzaro. Chỉ trong có 13 năm, Tây Ban Nha đã trở thành chủ nhân của khu vực giàu có và đông đúc nhất Tây Bán Cầu.

Cuộc xâm lược của Tây Ban Nha đã làm thay đổi mãi mãi cuộc sống ở châu Mĩ. Dịch bệnh và chiến tranh đã hầu như quét sạch người Indian ở Hispaniola- ít nhất là 300.000 người. Ở Peru, dân số đã tụt xuống từ 9 triệu người năm 1530 xuống còn chưa đến 500.000 người một thế kỉ sau đó. Trung Mĩ phải hứng chịu thiệt hại nặng nề nhất: Trong một trong những thảm họa nhân đạo lớn nhất trong lịch sử thế giới, dân số từ 30 triệu người bản xứ vào năm 1500 đã teo lại chỉ còn 3 triệu vào năm 1650.

Vàng bạc trước đây tôn vinh những vị thánh Aztec nay tô điểm cho những nhà thờ Thiên chúa giáo của châu Âu và chảy về những kho vàng của Tây Ban Nha. Từ đó một lượng bạc lớn chảy tới Trung Hoa, đất nước của 125 triệu người năm 1650, nơi có nhu cầu lớn dùng bạc làm tiền tệ. Đổi lại, Tây Ban Nha nhận được những đồ lụa là, gia vị và gốm sứ quí giá. Khi của cải từ châu Mĩ của Tây Ban Nha chảy khắp toàn cầu từ 1540 đến 1640, nó trở thành đất nước giàu có và hùng mạnh nhất châu Âu. Và Tây Ban Nha giờ đây tuyên bố mình là “ông chủ của cả thế giới”.

(Người dịch: Đào Huy Kiên, dịch từ cuốn “America, a concise history”- James A.Henretta& David Brody)

About these ads

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s