Văn hóa Mĩ những năm 1920

Những năm 1920 đánh dấu sự phát triển của nền văn hóa quần chúng quốc gia nhấn mạnh đến tiện nghi, tiêu thụ và giải trí. Ô tô, đường lát, dịch vụ bưu điện, phim ảnh, phát thanh, điện thoại, tạp chí có lượng phát hành khổng lồ, thương hiệu, và các chuỗi cửa hàng bỗng chốc trở thành tâm điểm chú ý. Chúng đã kết nối người Mĩ- trong những thị trấn công nghiệp ở nam Piedmont, những tiền đồn biên giới vùng đồng bằng Oklahoma, và những vùng dân tộc tự trị ở các bang ven bờ Đại Tây Dương và Thái Bình Dương- vào một mạng lưới quốc gia đang ngày càng phát triển. Thực tế, khi mà chủ nghĩa tiêu dùng lan ra khắp thế giới, ảnh hưởng của những sản phẩm và nền văn hóa của Mĩ đã đạt đến phạm vi toàn cầu.
Một xã hội tiêu dùng
Trong những ngôi nhà trên khắp đất nước vào những năm 1920, người Mĩ ăn sáng với ngũ cốc Kellogg và bánh mì nướng từ lò nướng bánh của General Electric. Họ lái những chiếc xe Ford kiểu T để đi làm và đi mua sắm tại Safeway, A&P hay Woolworth’s, ba trong số rất nhiều những chuỗi cửa hàng nở rộ trên khắp đất nước. Vào buổi tối, cả gia đình quây quần để nghe những chương trình phát thanh như “Những khoảnh khắc vĩ đại trong lịch sử”, để cập nhật các sự kiện từ tạp chí “Reader’s Digest” hoặc thưởng thức những câu chuyện giật gân từ tạp chí “True story”; vào dịp cuối tuần, họ có thể xem những bộ phim mới nhất của Charlie Chaplin tại rạp chiếu bóng địa phương. Hàng triệu người Mĩ giờ đây chia sẻ những trải nghiệm văn hóa giống nhau.
Mặc dầu vậy, nhiều người Mĩ bao gồm da đen, nhập cư, các gia đình thuộc tầng lớp lao động, và nhiều nông dân không tham gia đầy đủ vào nền văn hóa thương mại mới hay chấp nhận những giá trị thuộc về giai cấp trung lưu của nó. Hơn nữa, sự phân phối thu nhập không bình đẳng đã hạn chế khả năng mua những sản phẩm mới của nhiều người tiêu dùng. 40% gia đình Mĩ ở dưới đáy có mức thu nhập hàng năm chỉ 725 đô-la(tương đương 8.200 đô-la ngày nay); sau khi chi trả cho thực phẩm, nhà cửa, và quần áo, những gia đình này chỉ có 135 đô-la để chi tiêu cho tất cả những thứ khác. Nhiều người Mĩ tận dụng những phương án trả góp cho phép mọi người mua ô tô, ra-đi-ô, tủ lạnh và máy khâu “đúng lúc”. Một tờ quảng cáo đề “Mua ngay, trả sau” và hàng triệu người đã làm như vậy. Đến năm 1927, hai phần ba số ô tô Mĩ được trả bằng cách thanh toán hàng tháng và vay tiêu dùng đã tăng lên 7 tỉ đôla một năm- ngành kinh doanh lớn thứ 10 ở Mĩ.
Những thiết bị mới như tủ lạnh, ra-đi-ô, quạt, bàn là, máy hút bụi đã tác động rất lớn tới cuộc sống của phụ nữ. Trong khi những phụ nữ độc thân đang ngày càng tham gia nhiều hơn vào lực lượng lao động làm công ăn lương, phần lớn những phụ nữ có gia đình làm nội trợ và chăm sóc con cái. Những thiết bị điện đã khiến cho công việc gia đình trở nên nhẹ nhàng hơn rất nhiều khuyến khích những bà nội trợ trung lưu tự mình làm việc nhà, thay thế những người hầu bằng những thiết bị điện. Những vật dụng tiên tiến cũng nâng cao tiêu chuẩn của sự sạch sẽ, khuyến khích phụ nữ sử dụng nhiều thời gian hơn làm việc nhà. Đối với hầu hết phụ nữ, họ vẫn hiếm khi có thời gian rỗi rãi.

Để khuyến khích người tiêu dùng nhìn nhận những sản phẩm mới như “những vật dụng thiết yếu” hơn là “những thứ đồ xa xỉ”, các nhà sản xuất đã chi không dưới 2,6 tỉ đô-la một năm vào quảng cáo trong năm 1929. Một ngành công nghiệp quảng cáo mới (tập trung tại Đại lộ Madison của thành phố New York) đã nghĩ ra rất nhiều cách tinh vi để kích thích bán hàng. Một số quảng cáo thuốc có sự xuất hiện của những bác sĩ khoác áo trắng để gợi lên rằng sản phẩm của họ đã được khoa học chứng nhận. Những quảng cáo khác hấp dẫn khát vọng xã hội của mọi người bằng cách mô tả những người đàn ông và phụ nữ thanh lịch hút những nhãn hiệu thuốc lá nhất định hay lái một chiếc Buick, Pierce-Arrow hoặc chiếc xe nào đó khác. Những người viết quảng cáo cũng khiến cho mọi người bất an bằng hàng loạt những “căn bệnh” mà xã hội không thể chấp nhận được như bệnh “B.O” (cơ thể bốc mùi hôi)
Người tiêu dùng ít khi là nạn nhân thụ động của những chiến dịch quảng cáo sai lệch mà thường là những người tham gia tự nguyện vào một nền văn hóa mới. Đối với nhiều người Mĩ trung lưu trung lưu, những tiêu chuẩn truyền thống để phán xét giá trị bản thân bao gồm nhân cách, sự tận tụy với tôn giáo, và địa vị xã hội giờ đây đã có một đối thủ mới: sự thỏa mãn khao khát cá nhân bằng cách chiếm giữ tài sản nhiều hơn và tốt hơn.
Thế giới của ô tô
Không tài sản nào điển hình cho nền văn hóa tiêu thụ mới rõ nét hơn là ô tô. “Tại sao các bạn lại cần phải tìm hiểu cái gì đang làm thay đổi đất nước này?” Một người Indiana đã hỏi 2 nhà xã hội học Robert và Helen Lynd như vậy. “Tôi có thể trả lời cho các bạn bằng 1 từ: Ô TÔ”. Vật trưng bày của chủ nghĩa tư bản tiêu dùng hiện đại, ô tô đã đem đến cuộc cách mạng trong kinh tế và đời sống xã hội Mĩ.
Sản xuất xe hơi hàng loạt đã tạo nên sự phồn vinh của đất nước trong những năm 1920. Trước khi giới thiệu dây chuyền lắp ráp vào năm 1913, các công nhân của hãng Ford phải mất đến 12 tiếng rưỡi để lắp ráp xong một chiếc ô tô; giờ đây họ chỉ mất 93 phút để làm điều đó. Đến 1927, cứ 24 giây hãng Ford lại sản xuất một chiếc xe. Doanh số bán ô tô tăng từ 1,5 triệu trong năm 1921 lên 5 triệu vào năm 1929, năm mà người Mĩ tiêu tới 2,58 tỉ đô-la để mua ô tô. Đến cuối thập kỉ này, nước Mĩ đã sở hữu 23 triệu chiếc xe hơi, xấp xỉ 80% số lượng ô tô trên thế giới, trung bình cứ 6 người lại có một chiếc ô tô.

Chiếc xe Ford kiểu T
Sự bùng nổ của ngành công nghiệp ô tô đã kích thích nền kinh tế Mĩ. Nó trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy các ngành công nghiệp thép, xăng dầu, hóa chất, cao su, và kính, đem đến công ăn việc làm cho 3,7 triệu công nhân. Xây dựng đường cao tốc trở thành một ngành kinh doanh trị giá một tỉ đô-la một năm, nguồn tài chính lấy từ trợ cấp liên bang và thuế xăng của bang. Xe hơi đã phá tan sự cô lập của cuộc sống nông thôn, thúc đẩy sự phát triển của các vùng ngoại ô và vào năm 1924 đã sản sinh ra trung tâm mua sắm ngoại ô đầu tiên: Country Club Plaza bên ngoài thành phố Kansas bang Missouri.
Ô tô cũng thay đổi cách người Mĩ sử dụng thời gian rảnh rỗi của mình. Mặc dù giá xăng không rẻ(khoảng 2,50 đô-la một ga-lông theo giá năm 2008), nhưng nhiều người Mĩ vẫn lên đường, biến quốc gia này thành đất nước của những du khách. Hiệp hội ô tô Mĩ ước tính năm 1929 có khoảng 45 triệu người tức là gần 1/3 dân số đi nghỉ bằng ô tô. Giống như phim ảnh, xe hơi đã thay đổi phương thức hẹn hò của những thanh niên Mĩ. Trái với quan điểm của nhiều bậc cha mẹ, quan hệ tình dục trước hôn nhân không được sinh ra ở ghế sau của chiếc xe Ford, nhưng một chiếc Model T đem đến nhiều sự riêng tư hơn là phòng khách hay hiên nhà, và góp phần làm gia tăng quan hệ tình dục ở những người trẻ tuổi.
Phim ảnh và văn hóa đại chúng
Các phương tiện truyền thông đại chúng mới bao gồm những tạp chí bóng loáng, ra-đi-ô và đặc biệt là phim ảnh đã hình thành nên phần trung tâm của văn hóa quốc gia. Phim Mĩ có nguồn gốc từ những bộ phim câm như “The great train Robbery”. Đến 1910, ngành công nghiệp làm phim đã chuyển tới nam California nơi có đất rẻ, nhiều ánh nắng mặt trời, và phong cảnh đa dạng bao gồm cả những dãy núi, sa mạc, thành phố, và biển Thái Bình Dương. Sau khi kết thúc Đại chiến thế giới lần thứ nhất, Holywood đã trở thành kinh đô điện ảnh thế giới, sản xuất gần 90% tổng số lượng phim.
Phim ảnh đã hấp dẫn tầng lớp khán giả trung lưu. Những ngôi sao điện ảnh đầu tiên bao gồm Buster Keaton, Charlie Chaplin, Mary Pickford và Douglas Fairbanks trở thành những biểu tượng tạo ra xu hướng ăn mặc và đầu tóc. Sau đó một biểu tượng văn hóa mới xuất hiện đại diện cho phụ nữ thời đại mới.

Vua hề Charlie Chaplin
Nữ diễn viên Clara Bow đã trở thành thiếu nữ nổi tiếng của Holywood với mái tóc ngắn. Cô giành được hợp đồng đóng phim từ năm 18 tuổi và 3 năm sau trở thành một ngôi sao với vai nữ chính trong bộ phim “It” , một trong những bộ phim đầu tiên đạt doanh thu 1 triệu đô-la. Với vẻ ngoài giống con trai và mái tóc đỏ cá tính, cô luôn luôn nổi bật. Hàng ngàn phụ nữ trẻ lấy Bow làm hình mẫu. Với những bộ váy ngắn và những đôi tất lụa dài, những thiếu nữ trẻ môi son má hồng hút thuốc, khiêu vũ theo điệu nhạc jazz và phô trương lối sống tự do của họ. Giống như nhiều biểu tượng văn hóa khác, những cô thiếu nữ này chỉ đại diện cho một số ít phụ nữ nhưng nhờ những bộ phim và ngành công nghiệp quảng cáo, họ trở thành biểu tượng cho sự gợi cảm và sự giải phóng xã hội của phụ nữ.

Clara Bow
Phim ảnh trở thành những thương vụ làm ăn lớn, đạt doanh thu 1,6 tỉ đô-la vào năm 1926. Những hãng phim lớn như United Artists, Paramount và Metro-Goldwyn-Mayer thống trị ngành điện ảnh và chủ yếu được điều hành bởi những người nhập cư Do Thái từ châu Âu như Samuel Goldfish(sau đổi thành Goldwyn). Những bộ phim thậm chí còn trở nên sinh lời cao hơn và ảnh hưởng văn hóa mạnh hơn với những bộ phim có lời thoại. Bộ phim “ca sĩ nhạc Jazz” năm 1927 của hãng Warner Brothers trở thành bộ phim dài đầu tiên có âm thanh. Các hãng phim lớn nhanh chóng chuyển sang làm phim có lời thoại. Tính đến năm 1929, 23.000 rạp chiếu phim trên nước Mĩ đã bán ra 90 triệu vé trong 1 năm.
Không phải ngẫu nhiên mà “Ca sĩ nhạc Jazz” trở thành bộ phim có thoại đầu tiên. Nhạc Jazz đã thể hiện được cảm xúc của những năm 1920. Từ “jazz” vốn là một từ tục tĩu để chỉ một hành động tình dục; trong âm nhạc nó có nghĩa là hình thức chơi nhạc ngẫu hứng hiếm khi được viết thành bản nhạc. Nhạc jazz bắt đầu từ những phòng khiêu vũ và nhà chứa của New Orleans và là một hình thức nghệ thuật của người Mĩ gốc Phi. Hầu hết những nhạc công jazz đầu tiên là người da đen, và họ đem những giai điệu đó tới Chicago, New York, Kansas và Los Angeles. Những nghệ sĩ nổi tiếng nhất thời đó là nghệ sĩ piano Ferdinand Morton, nghệ sĩ chơi kèn trumpet Louis Armstrong, nhạc sĩ Edward Ellington, và ca sĩ Bessie Smith, “nữ hoàng của nhạc Blues”.

nhạc jazz thịnh hành ở Mĩ trong những năm 1920
Những máy hát càng làm tăng thêm sức lôi cuốn của nhạc jazz và blues bằng việc đem chúng đến với một lượng khán giả đông đảo; ngược lại, jazz cũng thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp thu âm. Hình thức nghệ thuật độc đáo thuần chất Mĩ này nhanh chóng lan sang châu Âu, đặc biệt là ở Pháp. Nhạc jazz thường bày tỏ sự phản kháng của người da đen đối với những giai điệu đơn giản lạc quan trong âm nhạc của người da trắng, bởi thế nó trở nên phổ biến trong những bộ phận nhất định của người Mĩ da trắng- thanh niên, trí thức, và những người bị xã hội ruồng bỏ- những người cảm thấy ngột ngạt với văn hóa trung lưu. Về sau đến cuối thế kỉ này, những hình thức âm nhạc khác của người Mĩ gốc Phi- đặc biệt là rhythm-and-blues và hip hop- sẽ một lần nữa thách thức các giá trị trung lưu bằng cách tiêm nhiễm chủ đề tình dục và bạo lực vào văn hóa đại chúng Mĩ.
Những tạp chí lưu hành với số lượng lớn và ra-đi-ô là những nhân tố chủ chốt trong việc hình thành nền văn hóa của quốc gia. Năm 1922, có mười tạp chí đã đạt lượng phát hành ít nhất là 2,5 triệu bản, trong đó có Time, Saturday Evening Post, Ladies’Home Journal và Good Housekeeping. Những báo lá cải chú trọng đến tội phạm, thể thao, tranh truyện và scandal đã trở thành một phần của văn hóa đô thị, và những dịch vụ tin tức như Associated Press(AP) và United Press(UP) đã xuất hiện. Nhờ có AP và UP, mọi người dân trên toàn nước Mĩ được đọc những bài tin tức giống nhau.
Công cụ mới nhất của văn hóa đại chúng, đài phát thanh chuyên nghiệp, mới chỉ là một đứa trẻ trong những năm 1920. Tháng 11 năm 1920, đài phát thanh KDKA tại Pittsburgh đem đến kết quả bầu cử tổng thống; gần 9 năm sau, 800 đài phát thanh đã phát sóng, hầu hết nằm trong hệ thống của Columbia Broadcasting System(CBS) hoặc Natioanl Broadcasting Company(NBC), và gần 10 triệu hộ gia đình Mĩ (chiếm 40% tổng số) đã sở hữu ra-đi-ô. Không giống như ở châu Âu, nơi chính phủ độc quyền phát thanh, các đài phát thanh của Mĩ được chính phủ cấp phép nhưng thuộc sở hữu tư nhân. Một trong những chương trình phát thanh phổ biến nhất mọi thời đại, Amos ‘n’ Andy, trên hệ thống NBC năm 1928 có sự xuất hiện của 2 diễn viên da trắng đóng vai 2 nhân vật da đen. Những cụm từ trong chương trình hàng tuần này như “Check and double check” nhanh chóng đi vào những câu nói hàng ngày. Rất nhiều người đã bật đài lên để nghe Amos’n’Andy khiến cho nhiều hoạt động khác phải tạm dừng trong thời gian phát sóng chương trình.

Cả gia đình cùng ngồi nghe ra-đi-ô
Khi tuần làm việc co lại và những kì nghỉ được trả lương gia tăng, người Mĩ có nhiều thời gian và năng lượng hơn để tham gia các hoạt động giải trí. Các thành phố và ngoại ô xây những sân bóng chày, sân tennis, bể bơi và sân golf. Thể thao trở thành một ngành kinh doanh lớn khi những doanh nghiệp tư nhân xây những sân vận động bóng bầu dục và bóng chày khổng lồ và mua những đội chuyên nghiệp về chơi tại đó. Người hâm mộ có thể đến xem các trận đấu, nghe tường thuật trên ra-đi-ô hoặc nắm bắt diễn biến chính trên những phim thời sự. Những vận động viên ngôi sao như võ sĩ quyền anh Jack Dempsey, tay golf Bobby Jones và cầu thủ bóng chày Babe Ruth trở thành những người nổi tiếng trên khắp đất nước.
Tư tưởng đối lập trong văn học
Khi hàng triệu người Mĩ ăn mừng chiến thắng trong cuộc chiến vĩ đại và sự thịnh vượng trong thời bình, những nhà văn có ảnh hưởng và những nhà trí thức lại bày tỏ sự chua xót. Tiểu thuyết gia John Dos Passos lên án “cuộc chiến của ngài Wilson” trong “Ba người lính” (1921) và một lần nữa trong “1919” (1932). Tiểu thuyết “Trong thời đại của chúng ta”(1924), “Mặt trời cũng lên”(1926), và “Giã từ vũ khí”(1929) đã khắc họa thành công những hệ quả vô nhân đạo và sự phù phiếm của chiến tranh. Trong bài thơ “Đất hoang”(1922), T.S Eliot đã khắc họa một nền văn minh bị hủy hoại.

Ernest Hemingway
Bị ảnh hưởng bởi cái nhìn đen tối của Eliot, những nhà văn đã viết những tác phẩm phê bình những điều mà họ nhìn thấy trong đời sống nước Mĩ. Trong “Babbitt”(1922), tiểu thuyết gia Sinclair Lewis đã châm biếm sự tuân thủ quá mức của một doanh nhân trung lưu. Năm 1925, Theodore Dreiser viết kiệt tác “Một bi kịch Mĩ” và F.Scott Fitzgerald xuất bản cuốn “Gatsby vĩ đại”, cả hai đều lên án những kẻ điên cuồng theo đuổi của cải vật chất.
(Người dịch: Đào Huy Kiên, dịch từ “America, a concise history”- James A.Henretta & David Brody)