Người viết và người đọc

Trước khi đồng sáng lập ra viettruyen.vn tôi đã tham gia một số diễn đàn văn học khác và rút ra được nhiều kinh nghiệm thú vị. Với tư cách là một người viết, tôi luôn gặp khó khăn trong việc đưa tác phẩm của mình đến với bạn đọc. Với tư cách là một người đọc, tôi luôn gặp khó khăn trong việc tìm được tác phẩm mà tôi cảm thấy thích khi đọc nó. Giữa người viết và người đọc luôn tồn tại một khoảng cách, và chính khoảng cách đó nhiều lúc đã gây ra những điều đáng tiếc. Đối với người viết, mỗi tác phẩm mà họ sáng tạo ra giống như một đứa con tinh thần của mình, mà đối với 1 người mẹ thì đứa con nào chả đẹp chả xinh. Nếu như có ai đó chê đứa con mình xấu xí, lẽ dĩ nhiên người mẹ sẽ rất buồn, tổn thương và dễ có những phản ứng tiêu cực. Nhiều người đọc không biết cảm giác đó và đối với họ, mỗi tác phẩm cũng giống như một thứ hàng hóa thông thường mà họ có quyền tự do nói lên ý kiến của mình về sản phẩm đó. Nếu như người viết đặt mình vào vị trí người đọc và người đọc đặt mình vào vị trí người viết, cùng thông cảm cho nhau, mọi việc sẽ rất tuyệt.

Đối với cá nhân tôi, khi người đọc chê bai truyện của mình, tất nhiên không thể tránh được việc bị tổn thương, nhưng tôi sẽ lắng nghe trước. Nếu như ý kiến đó tôi thấy đúng tôi sẽ cảm ơn người đọc, nếu như ý kiến đó tôi nghĩ là sai, tôi sẽ không chỉ trích mà sẽ nêu quan điểm của mình một cách nhẹ nhàng và chân thành.

Còn khi nhận xét truyện người khác, tôi sẽ tránh những lời khen quá đà để người viết ảo tưởng về trình độ của mình, và tránh những lời chê thẳng để người viết chịu sự tổn thương mà tôi đã từng nhiều lần gánh chịu.

Người viết cần người đọc. Nhưng trước hết, những người viết nên chịu khó đọc cho nhau, nhận xét cho nhau, rồi người đọc sẽ tìm đến. Đó là tư tưởng của tôi khi xây dựng nên viettruyen.vn.

Trong quá trình viết, tôi đã nhận được vô số gạch đá, nhưng cũng nhờ thế, tôi đã trưởng thành hơn, vững vàng hơn, và mọi việc đối với tôi cũng vì thế trở nên nhẹ nhàng hơn.

Một đám cưới, một cuộc tình

Một đám cưới, một cuộc tình

- Đào Huy Kiên-

Một đám cưới một cuộc tình

Tháng này, tôi đã được mời đi dự năm đám cưới. Nhưng đám cưới này không giống những đám cưới khác. Đó là đám cưới tình đầu của tôi. Khi nghe tin nàng sắp lấy chồng, tôi không cảm thấy gì. Điều đó khiến tôi hơi ngạc nhiên và có phần day dứt. Nàng đã từng là cả thế giới của tôi, chúng tôi đã có biết bao nhiêu kỉ niệm vui buồn, tôi tưởng mình sẽ buồn lắm, nhưng không, có lẽ thời gian đã xóa nhòa những cảm xúc yêu đương ngày nào. Hôm trước, tôi nhận được invitation của nàng tới dự đám cưới qua Facebook. Tôi nhấn nút Join, không chút cảm xúc gì. Nhưng khi bắt đầu đặt chân vào sảnh khách sạn, tôi bắt đầu cảm thấy hối tiếc vì hành động đó. Ở đó, tôi nhìn thấy những người bạn chung của tôi và nàng. Họ đều biết tôi đã từng yêu nàng say đắm đến thế nào. Tất cả đều nhìn tôi với ánh mắt ái ngại và thương cảm. Và khi tôi bước đến phòng tiệc thì một hình ảnh khiến tim tôi đau nhói. Nàng đang đứng đó, trong bộ váy cưới lộng lẫy, nắm tay một gã lạ hoắc mà người ta gọi là chú rể. Chưa bao giờ tôi thấy nàng đẹp đến thế. Tôi bước đến, bắt tay nàng, mỉm cười một nụ cười chua chát:
- Chúc mừng em!
- Cám ơn anh!
Nàng mỉm cười tươi tắn như đối với bao nhiêu người khác, như thể giữa tôi và nàng chưa hề có gì xảy ra. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, tôi cố dò tìm trên gương mặt nàng một sự nuối tiếc, một điều gì đó khác thường, nhưng chẳng có gì cả. Tôi đau đớn vì chỉ nhìn thấy niềm vui rạng rỡ ánh lên trong mắt nàng.
Tôi nhớ ánh mắt rạng rỡ ấy đã từng ngắm nhìn tôi trong một đêm đầy sao. Khi ấy tôi và nàng còn ở Wisconsin, không khí trong lành và bầu trời cao thẳm. Thỉnh thoảng nàng rủ tôi rời khỏi kí túc xá để đi dạo vào ban đêm dù như thế là vi phạm nội qui. Con đường ban đêm dài hun hút và lặng yên đến đáng sợ. Thỉnh thoảng mới có một chiếc ô tô đi qua nhưng tiếng động cơ và tiếng nhạc xập xình trên xe nhanh chóng bị màn đêm nuốt chửng, để lại một nỗi buồn miên man cho con đường. Nhưng tôi không cảm thấy nỗi buồn ấy khi đi bên nàng. Những lúc như vậy chúng tôi thường không nói đến những thứ mà mọi người vẫn thường nói như việc học hành ở trường hay những khó khăn của cuộc sống nơi đất khách quê người. Nàng thích nói đến những thứ cao xa, những thứ mà một người bình thường không thể chạm tới được. May sao tôi không phải một người bình thường. Tôi chỉ cố gắng hòa nhập với bọn họ, và giờ khi ở bên nàng, tôi mới được là chính mình. Nàng ngước nhìn lên bầu trời đầy sao và hỏi tôi:
- Nếu bây giờ có một điều ước anh sẽ ước điều gì?
- Anh sẽ ước có một tỉ đô la.
Nàng bật cười:
- Sao điều ước của anh chán thế?
- Thì có nhiều tiền anh sẽ thực hiện được những ước mơ của mình.
- Vậy điều đầu tiên sau khi có một tỉ đô la anh sẽ làm là gì?
- Anh sẽ xây một trường học thật đẹp và các học sinh khi đến trường của anh sẽ được học những điều thú vị và bổ ích. Chúng sẽ được chơi nhiều trò chơi, không phải đi học thêm và không phải làm nhiều bài tập.
- Nghe hay thật đấy, nếu điều ước của anh thành sự thật thì em sẽ gửi con đến học trường của anh.
- Thế điều ước của em là gì?
- Em thì chỉ ước được trở thành bác sĩ giỏi để cứu mọi người.
- Điều ước đó đơn giản quá, em có thể tự thực hiện được mà.
- Không đâu, sau khi tốt nghiệp em sẽ không học tiếp trường y mà về nước đi làm thôi.
Chúng tôi lại bước đi trong màn đêm tĩnh lặng, nghe rõ tiếng bước chân của mình trên nền đá. Những ngôi nhà bên kia đường không có chút ánh sáng nào. Một vài trong số đó đang treo biển rao bán, có lẽ đó là hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ năm ngoái. Màn đêm vẫn sâu hun hút. Nàng chợt hỏi tôi:
- Anh thích màu gì?
- Màu vàng.
- Tại sao thế ạ?
- Anh không rõ. Hồi bé anh rất thích màu vàng vì nó rất đẹp. Lớn lên thì anh cũng thích các màu khác nữa nhưng khi em hỏi thì anh vẫn nghĩ đến màu vàng đầu tiên.
Nàng gật gù, trầm tư rồi hỏi tiếp:
- Thế anh thích ăn món gì nhất?
- Anh thích món ăn do mẹ anh nấu nhất.
- Vậy chắc hẳn mẹ là người anh yêu nhất?
- Đúng vậy.
- Em cũng thế. Em thương mẹ em đã phải làm việc vất vả để cho em được đi du học. Em chỉ muốn học xong thật nhanh để về chăm sóc cho mẹ.
Chúng tôi chỉ toàn nói những câu chuyện vu vơ như vậy. Rồi bỗng nhiên nàng đi ra giữa đường.
- Này, cẩn thận đấy, nhỡ có xe đến thì sao.
- Thì kệ thôi anh.
Nàng cười, rồi như muốn trêu tôi, nằm xuống giữa đường.
Cứ khoảng năm phút lại có xe đi qua nên tôi cảm thấy hơi sợ.
- Em muốn chết à. Đứng dậy đi.
- Sợ gì? Nằm xuống đây với em đi.
Mặc dù rất sợ nhưng tôi vẫn làm theo lời nàng. Ở nàng có cái gì đó rất khác biệt: ngây thơ, hồn nhiên và điên rồ. Nàng đánh thức con người đã ngủ say trong lòng tôi. Tôi giống như một kẻ mộng du đã đi lang thang qua cuộc đời hai mươi năm bỗng nhiên tỉnh giấc. Chỉ trong giây phút ấy, giây phút kì lạ, khi nằm bên nàng trên con đường này, giữa bốn bề yên lặng, tiết trời tinh khôi và ngắm những vì sao lấp lánh trên bầu trời Wisconsin, tôi mới cảm thấy mình thực sự được sống chứ không phải vật vờ trên cõi đời như một con zombie. Tôi nghe thấy hơi thở nhẹ của nàng, tôi nghe thấy tiếng trái tim mình đang đập, và dường như nó đang nói với tôi rằng tôi đang yêu. Tôi đã từng không tin vào tình yêu trước khi gặp nàng. Nàng đã thay đổi mọi thứ, đã xáo trộn hoàn toàn cuộc sống của tôi từ giây phút đầu tiên xuất hiện. Tôi đã biết thế nào là tình yêu thực sự. Tôi biết rằng mình có thể chết vì nàng. Tôi quay sang nhìn nàng. Nàng vẫn ngắm bầu trời đầy sao.
Bỗng nhiên từ đằng xa có tiếng động cơ. Một chiếc ô tô đang phóng đến. Tôi bật dậy và kéo nàng lên. Nhưng phải kéo mãi nàng mới chịu dậy. Rồi tôi ôm nàng chạy vào lề đường trước khi chiếc ô tô phóng qua. Nàng vừa cười vừa vẫy tay chào chiếc xe còn tôi cảm thấy ái ngại khi người lái xe trọc đầu vừa lầm bầm vừa nhìn chúng tôi như những sinh vật ngoài hành tinh mới ghé thăm Trái đất.
Tôi đã sống lại những giây phút tuyệt đẹp ấy trong một khoảnh khắc. Tôi vẫn còn cảm thấy như mình vừa mới ôm nàng chạy thoát khỏi chiếc xe. Nhưng giờ tôi phải trở lại với thực tại. Chỉ còn vài phút nữa thôi, nàng sẽ thuộc về một gã đàn ông khác. Tôi nhìn quanh và thấy một bàn có vài người quen. Tôi đến đó ngồi, cầu mong họ sẽ không nhắc lại chuyện giữa tôi và nàng.
- A, ex của cô dâu này!- một người đến vỗ vai tôi.
Tôi giật mình, lòng đau đớn. Hóa ra là thằng Hải Linh. Không hiểu thằng này có thù oán gì mà cứ gặp tôi là lại đá xoáy. Tôi cũng không ngờ hôm nay lại gặp nó ở đây.
- Cảm giác thế nào hả ông? Người ta đi lấy chồng chắc buồn lắm nhỉ.
- Bình thường.
- Thế dạo này yêu em nào rồi?
- À, vẫn single thôi.
Đi cùng Hải Linh là một cô gái khá xinh với đôi mắt rất đẹp.
- Người yêu ông hả?- Tôi hỏi.
- Không, đây là Vân em gái tôi.
- Sao tôi chưa bao giờ biết ông có em gái nhỉ?
- Em xã hội. Ông thích không, tôi giới thiệu cho.
Câu nói của Hải Linh khiến cả tôi và Vân đều ngại ngùng. Đúng lúc ấy thì đèn tắt phụt và MC bắt đầu giới thiệu buổi lễ. Tiếng nhạc hoành tráng nổi lên. Cô dâu chú rể bước đi trên thảm đỏ trong ánh mắt chăm chú của mọi người. Tôi ngắm nhìn khuôn mặt xinh đẹp của nàng, khuôn mặt trang điểm rạng rỡ khiến tôi nhớ đến buổi dạ hội trường năm nào. Năm ấy nghỉ hè, chúng tôi về nước và đến buổi dạ hội của trường phổ thông chúng tôi từng học. Ở buổi dạ hội ấy, con trai thường mặc veste và vuốt tóc còn con gái thì mặc váy và trang điểm. Tôi dắt tay nàng bước đi giữa mọi người, lòng cảm thấy thật vui. Ngày xưa thời còn học sinh tôi thường đi dạ hội trường một mình, cảm giác lạc lõng. Nhưng giờ đây tôi đã có nàng ở bên. Khi buổi dạ hội bắt đầu, đèn tắt và DJ bắt đầu mở nhạc. Mọi người bắt đầu nhảy còn nàng chỉ đứng nhìn. Tôi rủ nàng nhảy thì nàng chỉ lắc đầu.
- Sao em không nhảy?- tôi hỏi.
- Em không biết nhảy.
- Có ai biết đâu. Cứ lắc lư theo nhạc thôi.
- Em không làm được.
Tôi hơi ngạc nhiên, thầm hỏi đây có phải là cô gái đã từng rủ tôi nằm giữa đường hay không.Vậy là gần như suốt buổi hôm đó, tôi với nàng ngồi ghế nhìn mọi người nhảy. Các cô gái nhảy rất hăng, đến nỗi mà mồ hôi làm lấm lem cả lớp trang điểm. Phải mãi về sau tôi mới rủ được nàng nhảy khi DJ chuyển sang một điệu nhạc du dương chậm rãi. Tôi ôm nàng và gần như chỉ đứng một chỗ lắc lư theo nhạc. Rồi dần dần chúng tôi chỉ ôm nhau và đứng yên.
- Anh yêu em- tôi thầm thì vào tai nàng nói.
Nàng không nói gì nhưng tôi cảm thấy nàng đang mỉm cười.
Từ sau buổi tối hôm đó, chúng tôi trở thành người yêu. Nhưng có một điều tôi luôn trăn trở: nàng có thực sự yêu tôi?
Tôi có cảm giác thứ tình cảm của chúng tôi thật mong manh. Tôi không thể nào chạm đến tận cùng trái tim của nàng. Đôi khi nàng cho tôi cảm giác tôi sắp chiếm trọn được trái tim nàng nhưng đôi khi tôi cảm thấy thật cô đơn trong mối quan hệ này. Nàng vẫn thế, vẫn lơ lửng giữa cuộc đời như một trái bóng bay. Nàng không muốn để tôi đi mất nhưng cũng không muốn buộc chặt vào tôi.
- Anh đang buồn à?
Tôi giật mình. Câu hỏi của Vân đưa tôi từ miền kí ức trở về với thực tại.
- Không. Anh không sao.
Lúc này Hải Linh đã sang bàn khác chơi nên tôi có thể thoải mái trò chuyện với Vân.
- Anh Hải Linh đã kể với em rằng hồi trước anh rất yêu chị ấy.
- Ừ- tôi đáp gọn lỏn.
- Em hiểu cảm giác của anh. Em cũng từng bị phản bội.
- Cô ấy không phản bội anh!
- Vâng, ý em không phải như vậy.
Những dồn nén nãy giờ khiến tôi như muốn nói hết nỗi lòng với Vân.
- Cô ấy không thích sự ràng buộc. Anh để cô ấy được tự do.
Nói dứt câu tôi bỗng cảm thấy như mình lỡ lời. Nếu nàng không thích sự ràng buộc thì sao giờ đây nàng lại lấy chồng? Những cảm giác đáng sợ ngày nào bắt đầu quay trở lại với tôi.
- Alô! Em à.
- Đố anh biết em đang ở đâu?
- Em đang ở ngoài đường đúng không?
- Không, em đang ở biển.
- Thật á, biển nào?
- Nha Trang! Anh có nghe thấy tiếng sóng không?
- Có. Anh nghe thấy rồi.
- Anh đang làm gì thế?
- Anh đang đi cùng em ở biển đây này. Em không thấy sao?
Những kí ức ngọt ngào giờ như liều thuốc độc ngấm dần vào trái tim tôi. Tôi nhớ lại những cuộc gọi kéo dài cả tiếng đồng hồ, những lần nắm tay nàng đi dạo ở bờ Hồ, những cái ôm thật dịu dàng. Và dù mọi thứ vẫn lơ lửng nhưng đã có những lúc tôi cảm thấy mình là người hạnh phúc nhất thế gian khi được ở bên nàng.
- Anh đã từng trải qua cảm giác ấy đúng không?
Tôi giật mình khi nghe Vân nói:
- Cảm giác gì?
- Còn hơn cả cái chết- Vân thì thầm.
Tôi nhìn gã đàn ông lạ hoắc kia đeo nhẫn cho nàng. Và tôi nhớ lại cái cảm giác kinh khủng ấy.
- Tại sao em không chịu để in relationship với anh trên Facebook?
- Em không muốn tiết lộ chuyện riêng tư…
- Tại sao em không muốn để cho bạn bè biết anh là người yêu em?
- Em…
- Em không yêu anh đúng không?
- Có… mà…
Tôi quẳng bó hoa hồng mua tặng nàng xuống đất. Tôi quay đầu phóng xe đi. Nước mắt trào ra, tôi không ngăn được những tiếng nấc nghẹn ngào. Tôi nhận ra rằng nàng không yêu tôi. Tất cả những gì tôi nhận được chỉ là lòng thương hại. Tôi đáng thương thế sao? Lòng tự tôn của tôi không cho phép tôi nhận lấy sự thương hại của bất kì ai. Tôi để nàng ra đi. Tôi để cho chú chim trở về với bầu trời tự do…
Tôi ngắm nhìn bọt rượu sâm panh tràn trên những chiếc li. Nàng và hắn đang rạng rỡ trong niềm vui hạnh phúc. Nỗi căm hận của tôi dường như bỗng dâng trào. Tôi bật dậy, chạy lên trong ánh mắt ngơ ngác của mọi người. Nàng nhìn tôi ngỡ ngàng. Tôi gạt tay làm những chiếc li đổ xuống sàn vỡ tan. Tôi xô đổ khay bánh cưới của nàng. Nàng bật khóc nức nở còn tôi phá lên một tràng cười man rợ.
Không, nàng vẫn đang cười hạnh phúc bên chú rể. Đó chỉ là những gì tôi tưởng tượng. Mọi thứ đã có thể diễn ra như vậy nhưng sự thật là tôi vẫn ngồi đó.
Hải Linh về sớm và nhờ tôi đưa Vân về. Tôi biết đó chỉ là trò gán ghép của nó. Nhưng tôi thầm cảm ơn Hải Linh vì lúc này tôi cần một người như Vân, một người thấu hiểu nỗi đau mà tình yêu có thể đem lại.
Tôi bước đến chào cô dâu trước khi ra về. Nàng nhìn tôi với cái nhìn lưu luyến:
- Sao anh về sớm thế?
- Anh phải đưa bạn về trước. Chúc em hạnh phúc nhé.
Chú rể nhìn tôi với ánh mắt dò xét. Hẳn là hắn đã nhận thấy điều gì đó kì lạ trong cách cư xử giữa tôi và nàng. Có thể hắn biết tôi là người yêu cũ của nàng… Cũng có thể không…
Tôi quay đi bước về phía Vân. Tôi có cảm giác nàng vẫn đang nhìn theo tôi. Nhưng điều đó thì có ý nghĩa gì cơ chứ. Nãy giờ Vân đã nhìn thấy hết mọi hành động của tôi và nàng.
- Ta đi nào- tôi nói.
- Chị ấy vẫn nhìn theo anh đấy.
- Điều đó chẳng còn quan trọng nữa.
- Anh còn yêu chị ấy không?
Tôi không trả lời mà nhìn về xa xăm rồi đáp lại bằng một câu hỏi khác:
- Em có nghĩ rằng một đám cưới sẽ kết thúc một cuộc tình?
- Anh có nghĩ rằng một đám cưới sẽ bắt đầu một cuộc tình?
Tôi mỉm cười:
- Cũng có thể.

Sách xuất bản- Anh là gì trong trái tim em

• Quyển sách là tuyển tập những câu chuyện về tình yêu vô cùng lôi cuốn qua giọng văn bay bổng, sâu sắc của cây viết trẻ Đào Huy Kiên.

• Những câu chuyện tình vừa nhẹ nhàng, thân thương vừa mang triết lý nhân văn khiến những người đã, đang và sẽ yêu có cái nhìn đúng đắn hơn về tình yêu đôi lứa.

• Cảm giác đau khổ khi bị phản bội, cảm giác hụt hẫng khi bỏ qua những cơ hội để rồi sau đó phải hối hận, ray rứt mãi trong lòng là những cung bậc cảm xúc mà người đọc sẽ cảm nhận được qua tập truyện “Anh là gì trong trái tim em?”

• Song truyện vẫn đem lại cho bạn cảm giác nhẹ nhàng, ngọt ngào từ những điều tưởng chừng rất nhỏ nhoi. Bạn sẽ thấy, tình yêu thật đa sắc, gần gũi qua tâm hồn phong phú và tinh tế của tác giả trẻ Đào Huy Kiên.

Caroline

Caroline

 - Đào Huy Kiên-

   Một ngày hè tháng tám, khi tôi tưởng rằng sẽ lại là một ngày chán ngắt nữa trôi qua thì có hai vị khách đến nhà tôi. Một người phụ nữ trung niên nhỏ nhắn và một cô gái trẻ cao lớn. Tôi bước ra và hỏi:

- Dạ, bác tìm ai ạ?

- Bác Lan đây mà. Mẹ cháu có nhà không?

- À…- tôi chợt nhớ ra- Vâng, bác Lan ạ. Bác vào nhà chơi. Mẹ cháu đang ở trên nhà.

Tôi mở cửa cho hai người. Hôm qua mẹ tôi có nói rằng hai mẹ con bác Lan hôm nay sẽ đến nhà chơi mà tôi không nhớ. Bác Lan là chị họ của mẹ tôi nhưng không sống ở Việt Nam mà ở Pháp. Đó là một câu chuyện dài liên quan đến lịch sử đất nước, anh chị em bà ngoại tôi có bốn người thì mỗi người một số phận. Bà ngoại tôi là Đảng viên của Đảng Cộng sản, bà là một Đảng viên gương mẫu và năng nổ đến nỗi mà tôi tin rằng nếu tất cả Đảng viên đều như bà thì chắc chắn Việt Nam đã vươn tới chủ nghĩa xã hội từ lâu rồi. Cha của bác Lan, tức là anh trai của bà ngoại tôi, trái ngược lại là một người rất ghét chế độ Cộng sản. Cũng khó trách được ông, bởi sau khi Sài Gòn được giải phóng, cuộc sống đi xuống đến mức rất nhiều người miền Nam phải vượt biên trốn ra nước ngoài, trong đó có ông và người em trai. Ông sang Pháp còn người em sang Mĩ. Người em gái của bà ngoại tôi về sau vào Nam. Vậy là anh em họ mỗi người một phương. Và thế là tôi cũng có anh chị em họ trên khắp thế giới. Mấy năm trước người chị họ bên Mĩ của tôi là Angela cũng đến đây chơi cùng anh bạn trai tóc vàng mắt xanh. Lần này thì đến lượt bà chị họ người Pháp.

Tôi gọi mẹ rồi pha trà mời bác và chị:

- Mời bác và chị uống nước ạ. Mẹ cháu sẽ xuống ngay.

- Cháu lớn quá nhỉ. Năm nay bao nhiêu tuổi rồi?

- Dạ cháu 20.

- Ồ thế thì chỉ kém chị một tuổi.

Tôi hỏi chị:

- Chị tên gì ạ?

Chị không hiểu, quay lại nhìn bác. Bác giải thích cho chị bằng tiếng Pháp.

Hiểu ra, chị mới mỉm cười nói:

- Caroline.

Bác Lan nói với tôi:

- Caroline không rành tiếng Việt lắm đâu. Bác cũng bận nên chỉ dạy được cho chị chút xíu thôi. Nhưng tiếng Anh thì nó khá. Cháu có biết tiếng Anh không?

- Dạ, cháu nói được tiếng Anh.

Lúc đó thì mẹ tôi xuống tới nơi. Mẹ và bác Lan bắt đầu trò chuyện rôm rả. Trong khi đó, Caroline cố gắng hiểu câu chuyện, thỉnh thoảng bác Lan lại quay ra giải thích bằng tiếng Pháp cho chị. Tôi cũng trao đổi vài câu tiếng Anh với chị, những câu hỏi xã giao đơn giản. Khuôn mặt của Caroline để lại ấn tượng rất đặc biệt cho tôi. Mặc dù cả cha và mẹ chị đều là người Việt Nam nhưng chị lại có vóc dáng cao lớn và khuôn mặt chẳng Việt Nam chút nào. Có lẽ giống người Nhật hơn. Tôi kết luận là môi trường sống ảnh hưởng rất nhiều đến ngoại hình. Nếu sinh ra ở Pháp, có lẽ tôi phải cao hơn mười phân và khuôn mặt cũng đậm chất phương Tây.

- Tối nay con đưa Caroline đi chơi một vòng Hà Nội nhé- mẹ bảo tôi.

- Vâng.

Bác Lan quay lại giải thích cho Caroline. Chị mỉm cười nói với tôi:

- Thank you, Kiên.

Sau khi bữa tối kết thúc, mẹ nhắc tôi đưa Caroline đi chơi. Tôi bèn dắt xe ra và đưa mũ bảo hiểm cho chị. Khi chị đã trèo lên xe rồi, mẹ tôi còn nhắc:

- Đi chậm thôi con nhé. Đừng đưa chị về muộn đấy.

- Vâng, con biết rồi.

Tôi nhìn khuôn mặt lo lắng của mẹ và bác Lan mà thấy buồn cười. Các bà mẹ luôn có cái tật lo lắng quá mức. Tôi đã hai mươi tuổi và có thể làm được mọi điều, mà chăm lo cho bà chị họ người ngoại quốc trong một buổi tối là một việc quá đơn giản. Chúng tôi vừa đi vừa trò chuyện bằng tiếng Anh:

- Chị đã bao giờ đi xe máy thế này chưa?

- Chưa.

- Cảm giác thế nào?

- Hơi sợ.

- Nhưng thích đúng không?- Tôi vừa nói vừa vặn ga phóng nhanh hơn một chút.

- Ừ- Caroline cười- Em giỏi thật đấy. Trông xe cộ lộn xộn như vậy mà không bị đâm.

- Đi quen là được thôi mà. Có gì khó đâu. Em sẽ đưa chị lên trung tâm Hà Nội. Ở đó đông vui lắm. Chị đã đi được những chỗ nào ở Việt Nam rồi?

- Chị đã đi Sài Gòn và Nha Trang rồi.

- Chị thấy Việt Nam đẹp không?

- Đẹp lắm.

- Thật không, nếu không đẹp thì chị cứ nói thật, không sao đâu- tôi đùa.

- Không, đẹp thật mà.

- Thế còn Hà Nội, chị đi được những chỗ nào rồi?

- Chị vào Văn Miếu và Lăng Bác rồi.

- Thật hả, thế thì chị hơn em rồi. Em sống ở đây hai mươi năm mà chưa vào Lăng Bác bao giờ. Ở trong đó có gì?

- Có “dead body” của ông Hồ Chí Minh. Sợ lắm.

Câu nói của chị thốt lên khiến tôi thấy buồn cười. Chị có vẻ rất sợ “dead body” của Bác Hồ.

Tôi đưa Caroline tới hồ Gươm và hỏi:

- Chị có thích đi bộ một vòng quanh hồ không?

- Why not?- chị đáp lại bằng một câu hỏi khác.

Tôi gửi xe và chúng tôi cùng nhau dạo bước bên hồ Gươm.

- Lâu rồi em mới lại đi dạo ở đây.

- Vậy à?

- Chị biết tại sao đây lại được gọi là hồ Gươm không?

- Có. Ngày xưa có một vị vua trả lại thanh gươm cho con rùa ở hồ này.

- Ồ điều đó chị cũng biết à.

- Thì trước khi tới đây chị cũng có tìm hiểu đôi chút về Việt Nam qua internet.

Chúng tôi nói chuyện linh tinh. Nhiều lúc tôi không nghe rõ phải hỏi lại vì tiếng Anh của Caroline vẫn nặng cách phát âm kiểu Pháp. Dù sao thì nghe dễ chịu hơn nhiều thứ tiếng Anh mà ông huấn luyện viên người Pháp Arsene Wenger của câu lạc bộ Arsenal vẫn nói.

Tôi kể cho chị rằng mỗi khi đội tuyển Việt Nam thắng một trận bóng đá quan trọng ở giải Đông Nam Á là nơi đây lại đông nghẹt người ăn mừng hò reo rất vui. Chị liền kể hồi trước khi Pháp vô địch World Cup dân Pháp cũng tụ tập ăn mừng dữ lắm.

- Hồi đó em ghét Pháp lắm, cổ vũ cho Brazil.

- Pháp chơi hay mà. Có Zidane.

- Zidane em lại càng ghét, toàn chơi cho những câu lạc bộ mà em ghét cay ghét đắng là Juventus với Real.

Nói chuyện bóng đá một lúc chúng tôi chuyển qua chuyện nghề nghiệp.

- Chị đang học hay đi làm rồi?

- Chị đang học đại học. Sau chuyến đi này về chị sẽ phải kiếm công ty thực tập. Em học ngành gì?

- Em học kinh tế.

- Sau này em định làm gì?

- Làm doanh nhân.

- Tại sao?

- Không phải làm gì mà vẫn có nhiều tiền.

Caroline bật cười:

- Good point.

Sau khi đã đi hết một vòng hồ, tôi đưa Caroline đến Nhà hát lớn ngồi hóng mát.

- Chị thấy không, Nhà hát lớn này là do người Pháp xây đấy, thời Việt Nam còn là thuộc địa của Pháp. Cả khu này vẫn còn đậm nét kiến trúc của Pháp.

- Ừ.

Tôi gọi hai cốc trà đá để chị có thể cảm nhận được cuộc sống của thanh niên Việt Nam: ngồi trà đá hóng gió và chém gió. Caroline tỏ ra rất vui trong suốt buổi tối. Tôi cũng cảm thấy vui vì đã khơi gợi tình yêu Việt Nam đối với một người Pháp gốc Việt. Về sau, Caroline quyết tâm học tiếng Việt và khi chat với tôi, chị luôn dùng tiếng Việt. Nhiều lúc đọc những câu tiếng Việt ngô nghê của chị, tôi mới thấy thông cảm với những người bản xứ khi ta cố giao tiếp với họ bằng ngôn ngữ của họ. Điều đó đòi hỏi một sự kiên nhẫn và bao dung. Từ đó tôi cũng hiểu tại sao anh chàng Joe lại phàn nàn trên Facebook của mình rằng người Việt không chịu nói tiếng Việt với anh. Bao giờ cũng thế, nói ngoại ngữ với người nước ngoài thì thú vị hơn là nói tiếng mẹ đẻ của mình với họ. Chúng ta vốn quen việc nói ngoại ngữ với người nước ngoài. Nhưng có lẽ càng ngày, chúng ta sẽ phải làm quen với việc nói tiếng Việt với người nước ngoài nhiều hơn.

Tôi đã làm tốt nhiệm vụ của mình, đem đến cho bà chị họ người Pháp của mình một buổi tối vui vẻ, và đưa chị về nhà an toàn. Duy chỉ có một điều, đêm hôm đó Caroline bị đau bụng vì uống trà đá. Chị bảo với bác Lan rằng cốc trà đá đó không vệ sinh. Tội nghiệp Caroline, chắc chị thấy tôi nhiệt tình mời nên không nỡ từ chối, mà lại thấy tôi uống ngon lành nữa. Tất nhiên tôi chẳng sao cả vì là người Việt Nam quen ăn bẩn rồi mà. Về sau chat với chị, tôi lại đùa rủ khi nào quay lại Việt Nam lại đi uống trà đá. Chị hét toáng lên “No!!!”.

Cha và con

Cha và con

- Đào Huy Kiên-

Nguyên buồn rầu đứng trước cổng trường. Nửa tiếng trước nơi đây còn rộn ràng tấp nập người xe thì bây giờ đã vắng hoe. Lũ bạn đã về hết. Ánh dương cũng sắp tàn. Nguyên vẫn mòn mỏi ngóng đợi bố. Mắt cậu dán vào khoảng không vô định ở xa xa chờ đợi một chấm đen xuất hiện. Tai cậu lắng nghe chờ đợi tiếng còi xe quen thuộc. Lòng Nguyên tràn đầy nỗi tức giận vì bố đã bắt cậu phải chờ lâu như thế.

“Bố chẳng quan tâm gì đến mình cả. Bố có hiểu cái cảm giác chờ đợi của mình lúc này kinh khủng thế nào không?”

Cuối cùng bố Nguyên cũng đến. Anh sốt sắng:

- Con chờ bố có lâu không?

- Chưa ạ, mới chỉ nửa tiếng thôi- Nguyên đáp lại một cách hờn dỗi.

- Bố xin lỗi, tại bố bận quá.

- Bố thì lúc nào chả bận. Nhà của bố ở Đài truyền hình mà.

Tiến cảm thấy xót xa vì câu nói của đứa con. Thằng bé nói đúng. Anh quanh năm suốt tháng lúc nào cũng chỉ biết đến công việc. Trong khi các gia đình khác cuối tuần đưa nhau đi chơi thì anh vẫn phải làm việc như ngày thường. Có khi mấy tháng trời anh đi biền biệt chẳng về nhà. Anh đã không làm tròn nghĩa vụ của một người chồng, người cha. Nhưng biết làm thế nào được, đó là yêu cầu công việc. Nhiều lúc anh cũng muốn tìm một công việc khác, bởi đồng lương dù không hề thấp cũng chẳng tương xứng với thiệt thòi mà anh phải chịu. Nhưng vứt bỏ công việc anh đã đi theo gần chục năm trời đâu phải dễ dàng. Nó giống như một cái cây đã bám rễ vào trong con người anh, trở thành một phần thân thể anh, chẳng thể nào dứt ra được. Vả lại ở cái tuổi ngoài ba mươi của anh, tìm một công việc khác trong thời buổi kinh tế khó khăn này cũng lắm gian nan. Mà nếu chỉ có một mình thì sao cũng được, nhưng anh còn cả một gia đình phải chăm lo. Anh không thể mạo hiểm thay đổi. Ngày xưa anh chỉ nghĩ đơn giản là nếu cảm thấy chán thì nghỉ, nào ngờ chỉ bước một bước thôi, anh đã mãi mãi không thể quay đầu lại…

- Bố à, từ mai bố đừng đón con nữa. Con muốn mẹ đón con- Nguyên nói với bố- Mẹ không bao giờ để con chờ lâu.

Tiến không đáp…

Hai tiếng trước đó,

- Anh à, hôm nay anh nhớ đón con sớm nhé. Đừng để thằng bé phải chờ.

- Ừ, anh nhớ rồi. Anh đi quay chương trình này về sẽ đón nó ngay.

- Hay anh bận thì để em đón con cho?

- Không, chắc chắn anh sẽ đến sớm mà.

Tiến gác máy. Nghe thấy cuộc nói chuyện của Tiến với vợ, người đồng nghiệp trẻ bèn hỏi:

- Sao anh không để chị nhà đón con hộ?

- Chú chưa có con nên không hiểu đâu. Anh thích đón thằng bé. Mỗi lần nhìn thấy nó hớn hở chạy từ trong sân trường ra, anh cảm thấy hạnh phúc lắm. Anh cảm thấy trên đời này chẳng còn có điều gì ý nghĩa hơn thế.

Văn hóa Mĩ những năm 1920

Văn hóa Mĩ những năm 1920

 

 Những năm 1920 đánh dấu sự phát triển của nền văn hóa quần chúng quốc gia nhấn mạnh đến tiện nghi, tiêu thụ và giải trí. Ô tô, đường lát, dịch vụ bưu điện, phim ảnh, phát thanh, điện thoại, tạp chí có lượng phát hành khổng lồ, thương hiệu, và các chuỗi cửa hàng bỗng chốc trở thành tâm điểm chú ý. Chúng đã kết nối người Mĩ- trong những thị trấn công nghiệp ở nam Piedmont, những tiền đồn biên giới vùng đồng bằng Oklahoma, và những vùng dân tộc tự trị ở các bang ven bờ Đại Tây Dương và Thái Bình Dương- vào một mạng lưới quốc gia đang ngày càng phát triển. Thực tế, khi mà chủ nghĩa tiêu dùng lan ra khắp thế giới, ảnh hưởng của những sản phẩm và nền văn hóa của Mĩ đã đạt đến phạm vi toàn cầu.

Một xã hội tiêu dùng

 Trong những ngôi nhà trên khắp đất nước vào những năm 1920, người Mĩ ăn sáng với ngũ cốc Kellogg và bánh mì nướng từ lò nướng bánh của General Electric. Họ lái những chiếc xe Ford kiểu T để đi làm và đi mua sắm tại Safeway, A&P hay Woolworth’s, ba trong số rất nhiều những chuỗi cửa hàng nở rộ trên khắp đất nước. Vào buổi tối, cả gia đình quây quần để nghe những chương trình phát thanh như “Những khoảnh khắc vĩ đại trong lịch sử”, để cập nhật các sự kiện từ tạp chí “Reader’s Digest” hoặc thưởng thức những câu chuyện giật gân từ tạp chí “True story”; vào dịp cuối tuần, họ có thể xem những bộ phim mới nhất của Charlie Chaplin tại rạp chiếu bóng địa phương. Hàng triệu người Mĩ giờ đây chia sẻ những trải nghiệm văn hóa giống nhau.

Mặc dầu vậy, nhiều người Mĩ bao gồm da đen, nhập cư, các gia đình thuộc tầng lớp lao động, và nhiều nông dân không tham gia đầy đủ vào nền văn hóa thương mại mới hay chấp nhận những giá trị thuộc về giai cấp trung lưu của nó. Hơn nữa, sự phân phối thu nhập không bình đẳng đã hạn chế khả năng mua những sản phẩm mới của nhiều người tiêu dùng. 40% gia đình Mĩ ở dưới đáy có mức thu nhập hàng năm chỉ 725 đô-la(tương đương 8.200 đô-la ngày nay); sau khi chi trả cho thực phẩm, nhà cửa, và quần áo, những gia đình này chỉ có 135 đô-la để chi tiêu cho tất cả những thứ khác. Nhiều người Mĩ tận dụng những phương án trả góp cho phép mọi người mua ô tô, ra-đi-ô, tủ lạnh và máy khâu “đúng lúc”. Một tờ quảng cáo đề “Mua ngay, trả sau” và hàng triệu người đã làm như vậy. Đến năm 1927, hai phần ba số ô tô Mĩ được trả bằng cách thanh toán hàng tháng và vay tiêu dùng đã tăng lên 7 tỉ đôla một năm- ngành kinh doanh lớn thứ 10 ở Mĩ.

Những thiết bị mới như tủ lạnh, ra-đi-ô, quạt, bàn là, máy hút bụi đã tác động rất lớn tới cuộc sống của phụ nữ. Trong khi những phụ nữ độc thân đang ngày càng tham gia nhiều hơn vào lực lượng lao động làm công ăn lương, phần lớn những phụ nữ có gia đình làm nội trợ và chăm sóc con cái. Những thiết bị điện đã khiến cho công việc gia đình trở nên nhẹ nhàng hơn rất nhiều khuyến khích những bà nội trợ trung lưu tự mình làm việc nhà, thay thế những người hầu bằng những thiết bị điện. Những vật dụng tiên tiến cũng nâng cao tiêu chuẩn của sự sạch sẽ, khuyến khích phụ nữ sử dụng nhiều thời gian hơn làm việc nhà. Đối với hầu hết phụ nữ, họ vẫn hiếm khi có thời gian rỗi rãi.

Để khuyến khích người tiêu dùng nhìn nhận những sản phẩm mới như “những vật dụng thiết yếu” hơn là “những thứ đồ xa xỉ”, các nhà sản xuất đã chi không dưới 2,6 tỉ đô-la một năm vào quảng cáo trong năm 1929. Một ngành công nghiệp quảng cáo mới (tập trung tại Đại lộ Madison của thành phố New York) đã nghĩ ra rất nhiều cách tinh vi để kích thích bán hàng. Một số quảng cáo thuốc có sự xuất hiện của những bác sĩ khoác áo trắng để gợi lên rằng sản phẩm của họ đã được khoa học chứng nhận. Những quảng cáo khác hấp dẫn khát vọng xã hội của mọi người bằng cách mô tả những người đàn ông và phụ nữ thanh lịch hút những nhãn hiệu thuốc lá nhất định hay lái một chiếc Buick, Pierce-Arrow hoặc chiếc xe nào đó khác. Những người viết quảng cáo cũng khiến cho mọi người bất an bằng hàng loạt những “căn bệnh” mà xã hội không thể chấp nhận được như bệnh “B.O” (cơ thể bốc mùi hôi)

Người tiêu dùng ít khi là nạn nhân thụ động của những chiến dịch quảng cáo sai lệch mà thường là những người tham gia tự nguyện vào một nền văn hóa mới. Đối với nhiều người Mĩ trung lưu trung lưu, những tiêu chuẩn truyền thống để phán xét giá trị bản thân bao gồm nhân cách, sự tận tụy với tôn giáo, và địa vị xã hội giờ đây đã có một đối thủ mới: sự thỏa mãn khao khát cá nhân bằng cách chiếm giữ tài sản nhiều hơn và tốt hơn.

Thế giới của ô tô

Không tài sản nào điển hình cho nền văn hóa tiêu thụ mới rõ nét hơn là ô tô. “Tại sao các bạn lại cần phải tìm hiểu cái gì đang làm thay đổi đất nước này?” Một người Indiana đã hỏi 2 nhà xã hội học Robert và Helen Lynd như vậy. “Tôi có thể trả lời cho các bạn bằng 1 từ: Ô TÔ”. Vật trưng bày của chủ nghĩa tư bản tiêu dùng hiện đại, ô tô đã đem đến cuộc cách mạng trong kinh tế và đời sống xã hội Mĩ.

Sản xuất xe hơi hàng loạt đã tạo nên sự phồn vinh của đất nước trong những năm 1920. Trước khi giới thiệu dây chuyền lắp ráp vào năm 1913, các công nhân của hãng Ford phải mất đến 12 tiếng rưỡi để lắp ráp xong một chiếc ô tô; giờ đây họ chỉ mất 93 phút để làm điều đó. Đến 1927, cứ 24 giây hãng Ford lại sản xuất một chiếc xe. Doanh số bán ô tô tăng từ 1,5 triệu trong năm 1921 lên 5 triệu vào năm 1929, năm mà người Mĩ tiêu tới 2,58 tỉ đô-la để mua ô tô. Đến cuối thập kỉ này, nước Mĩ đã sở hữu 23 triệu chiếc xe hơi, xấp xỉ 80% số lượng ô tô trên thế giới, trung bình cứ 6 người lại có một chiếc ô tô.

Chiếc xe Ford kiểu T

Sự bùng nổ của ngành công nghiệp ô tô đã kích thích nền kinh tế Mĩ. Nó trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy các ngành công nghiệp thép, xăng dầu, hóa chất, cao su, và kính, đem đến công ăn việc làm cho 3,7 triệu công nhân. Xây dựng đường cao tốc trở thành một ngành kinh doanh trị giá một tỉ đô-la một năm, nguồn tài chính lấy từ trợ cấp liên bang và thuế xăng của bang. Xe hơi đã phá tan sự cô lập của cuộc sống nông thôn, thúc đẩy sự phát triển của các vùng ngoại ô và vào năm 1924 đã sản sinh ra trung tâm mua sắm ngoại ô đầu tiên: Country Club Plaza bên ngoài thành phố Kansas bang Missouri.

Ô tô cũng thay đổi cách người Mĩ sử dụng thời gian rảnh rỗi của mình. Mặc dù giá xăng không rẻ(khoảng 2,50 đô-la một ga-lông theo giá năm 2008), nhưng nhiều người Mĩ vẫn lên đường, biến quốc gia này thành đất nước của những du khách. Hiệp hội ô tô Mĩ ước tính năm 1929 có khoảng 45 triệu người tức là gần 1/3 dân số đi nghỉ bằng ô tô. Giống như phim ảnh, xe hơi đã thay đổi phương thức hẹn hò của những thanh niên Mĩ. Trái với quan điểm của nhiều bậc cha mẹ, quan hệ tình dục trước hôn nhân không được sinh ra ở ghế sau của chiếc xe Ford, nhưng một chiếc Model T đem đến nhiều sự riêng tư hơn là phòng khách hay hiên nhà, và góp phần làm gia tăng quan hệ tình dục ở những người trẻ tuổi.

Phim ảnh và văn hóa đại chúng

 Các phương tiện truyền thông đại chúng mới bao gồm những tạp chí bóng loáng, ra-đi-ô và đặc biệt là phim ảnh đã hình thành nên phần trung tâm của văn hóa quốc gia. Phim Mĩ có nguồn gốc từ những bộ phim câm như “The great train Robbery”. Đến 1910, ngành công nghiệp làm phim đã chuyển tới nam California nơi có đất rẻ, nhiều ánh nắng mặt trời, và phong cảnh đa dạng bao gồm cả những dãy núi, sa mạc, thành phố, và biển Thái Bình Dương. Sau khi kết thúc Đại chiến thế giới lần thứ nhất, Holywood đã trở thành kinh đô điện ảnh thế giới, sản xuất gần 90% tổng số lượng phim.

Phim ảnh đã hấp dẫn tầng lớp khán giả trung lưu. Những ngôi sao điện ảnh đầu tiên bao gồm Buster Keaton, Charlie Chaplin, Mary Pickford và Douglas Fairbanks trở thành những biểu tượng tạo ra xu hướng ăn mặc và đầu tóc. Sau đó một biểu tượng văn hóa mới xuất hiện đại diện cho phụ nữ thời đại mới.

Vua hề Charlie Chaplin

Nữ diễn viên Clara Bow đã trở thành thiếu nữ nổi tiếng của Holywood với mái tóc ngắn. Cô giành được hợp đồng đóng phim từ năm 18 tuổi và 3 năm sau trở thành một ngôi sao với vai nữ chính trong bộ phim “It” , một trong những bộ phim đầu tiên đạt doanh thu 1 triệu đô-la. Với vẻ ngoài giống con trai và mái tóc đỏ cá tính, cô luôn luôn nổi bật. Hàng ngàn phụ nữ trẻ lấy Bow làm hình mẫu. Với những bộ váy ngắn và những đôi tất lụa dài, những thiếu nữ trẻ môi son má hồng hút thuốc, khiêu vũ theo điệu nhạc jazz và phô trương lối sống tự do của họ. Giống như nhiều biểu tượng văn hóa khác, những cô thiếu nữ này chỉ đại diện cho một số ít phụ nữ nhưng nhờ những bộ phim và ngành công nghiệp quảng cáo, họ trở thành biểu tượng cho sự gợi cảm và sự giải phóng xã hội của phụ nữ.

Clara Bow

Phim ảnh trở thành những thương vụ làm ăn lớn, đạt doanh thu 1,6 tỉ đô-la vào năm 1926. Những hãng phim lớn như United Artists, Paramount và Metro-Goldwyn-Mayer thống trị ngành điện ảnh và chủ yếu được điều hành bởi những người nhập cư Do Thái từ châu Âu như Samuel Goldfish(sau đổi thành Goldwyn). Những bộ phim thậm chí còn trở nên sinh lời cao hơn và ảnh hưởng văn hóa mạnh hơn với những bộ phim có lời thoại. Bộ phim “ca sĩ nhạc Jazz” năm 1927 của hãng Warner Brothers trở thành bộ phim dài đầu tiên có âm thanh. Các hãng phim lớn nhanh chóng chuyển sang làm phim có lời thoại. Tính đến năm 1929, 23.000 rạp chiếu phim trên nước Mĩ đã bán ra 90 triệu vé trong 1 năm.

Không phải ngẫu nhiên mà “Ca sĩ nhạc Jazz” trở thành bộ phim có thoại đầu tiên. Nhạc Jazz đã thể hiện được cảm xúc của những năm 1920. Từ “jazz” vốn là một từ tục tĩu để chỉ một hành động tình dục; trong âm nhạc nó có nghĩa là hình thức chơi nhạc ngẫu hứng hiếm khi được viết thành bản nhạc. Nhạc jazz bắt đầu từ những phòng khiêu vũ và nhà chứa của New Orleans và là một hình thức nghệ thuật của người Mĩ gốc Phi. Hầu hết những nhạc công jazz đầu tiên là người da đen, và họ đem những giai điệu đó tới Chicago, New York, Kansas và Los Angeles. Những nghệ sĩ nổi tiếng nhất thời đó là nghệ sĩ piano Ferdinand Morton, nghệ sĩ chơi kèn trumpet Louis Armstrong, nhạc sĩ Edward Ellington, và ca sĩ Bessie Smith, “nữ hoàng của nhạc Blues”.

nhạc jazz thịnh hành ở Mĩ trong những năm 1920

Những máy hát càng làm tăng thêm sức lôi cuốn của nhạc jazz và blues bằng việc đem chúng đến với một lượng khán giả đông đảo; ngược lại, jazz cũng thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp thu âm. Hình thức nghệ thuật độc đáo thuần chất Mĩ này nhanh chóng lan sang châu Âu, đặc biệt là ở Pháp. Nhạc jazz thường bày tỏ sự phản kháng của người da đen đối với những giai điệu đơn giản lạc quan trong âm nhạc của người da trắng, bởi thế nó trở nên phổ biến trong những bộ phận nhất định của người Mĩ da trắng- thanh niên, trí thức, và những người bị xã hội ruồng bỏ- những người cảm thấy ngột ngạt với văn hóa trung lưu. Về sau đến cuối thế kỉ này, những hình thức âm nhạc khác của người Mĩ gốc Phi- đặc biệt là rhythm-and-blues và hip hop- sẽ một lần nữa thách thức các giá trị trung lưu bằng cách tiêm nhiễm chủ đề tình dục và bạo lực vào văn hóa đại chúng Mĩ.

Những tạp chí lưu hành với số lượng lớn và ra-đi-ô là những nhân tố chủ chốt trong việc hình thành nền văn hóa của quốc gia. Năm 1922, có mười tạp chí đã đạt lượng phát hành ít nhất là 2,5 triệu bản, trong đó có Time, Saturday Evening Post, Ladies’Home Journal và Good Housekeeping. Những báo lá cải chú trọng đến tội phạm, thể thao, tranh truyện và scandal đã trở thành một phần của văn hóa đô thị, và những dịch vụ tin tức như Associated Press(AP) và United Press(UP) đã xuất hiện. Nhờ có AP và UP, mọi người dân trên toàn nước Mĩ được đọc những bài tin tức giống nhau.

Công cụ mới nhất của văn hóa đại chúng, đài phát thanh chuyên nghiệp, mới chỉ là một đứa trẻ trong những năm 1920. Tháng 11 năm 1920, đài phát thanh KDKA tại Pittsburgh đem đến kết quả bầu cử tổng thống; gần 9 năm sau, 800 đài phát thanh đã phát sóng, hầu hết nằm trong hệ thống của Columbia Broadcasting System(CBS) hoặc Natioanl Broadcasting Company(NBC), và gần 10 triệu hộ gia đình Mĩ (chiếm 40% tổng số) đã sở hữu ra-đi-ô. Không giống như ở châu Âu, nơi chính phủ độc quyền phát thanh, các đài phát thanh của Mĩ được chính phủ cấp phép nhưng thuộc sở hữu tư nhân. Một trong những chương trình phát thanh phổ biến nhất mọi thời đại, Amos ‘n’ Andy, trên hệ thống NBC năm 1928 có sự xuất hiện của 2 diễn viên da trắng đóng vai 2 nhân vật da đen. Những cụm từ trong chương trình hàng tuần này như “Check and double check” nhanh chóng đi vào những câu nói hàng ngày. Rất nhiều người đã bật đài lên để nghe Amos’n’Andy khiến cho nhiều hoạt động khác phải tạm dừng trong thời gian phát sóng chương trình.

Cả gia đình cùng ngồi nghe ra-đi-ô

Khi tuần làm việc co lại và những kì nghỉ được trả lương gia tăng, người Mĩ có nhiều thời gian và năng lượng hơn để tham gia các hoạt động giải trí. Các thành phố và ngoại ô xây những sân bóng chày, sân tennis, bể bơi và sân golf. Thể thao trở thành một ngành kinh doanh lớn khi những doanh nghiệp tư nhân xây những sân vận động bóng bầu dục và bóng chày khổng lồ và mua những đội chuyên nghiệp về chơi tại đó. Người hâm mộ có thể đến xem các trận đấu, nghe tường thuật trên ra-đi-ô hoặc nắm bắt diễn biến chính trên những phim thời sự. Những vận động viên ngôi sao như võ sĩ quyền anh Jack Dempsey, tay golf Bobby Jones và cầu thủ bóng chày Babe Ruth trở thành những người nổi tiếng trên khắp đất nước.

Tư tưởng đối lập trong văn học

Khi hàng triệu người Mĩ ăn mừng chiến thắng trong cuộc chiến vĩ đại và sự thịnh vượng trong thời bình, những nhà văn có ảnh hưởng và những nhà trí thức lại bày tỏ sự chua xót. Tiểu thuyết gia John Dos Passos lên án “cuộc chiến của ngài Wilson” trong “Ba người lính” (1921) và một lần nữa trong “1919” (1932). Tiểu thuyết “Trong thời đại của chúng ta”(1924), “Mặt trời cũng lên”(1926), và “Giã từ vũ khí”(1929) đã khắc họa thành công những hệ quả vô nhân đạo và sự phù phiếm của chiến tranh. Trong bài thơ “Đất hoang”(1922), T.S Eliot đã khắc họa một nền văn minh bị hủy hoại.

Ernest Hemingway

Bị ảnh hưởng bởi cái nhìn đen tối của Eliot, những nhà văn đã viết những tác phẩm phê bình những điều mà họ nhìn thấy trong đời sống nước Mĩ. Trong “Babbitt”(1922), tiểu thuyết gia Sinclair Lewis đã châm biếm sự tuân thủ quá mức của một doanh nhân trung lưu. Năm 1925, Theodore Dreiser viết kiệt tác “Một bi kịch Mĩ” và F.Scott Fitzgerald xuất bản cuốn “Gatsby vĩ đại”, cả hai đều lên án những kẻ điên cuồng theo đuổi của cải vật chất.

(Người dịch: Đào Huy Kiên, dịch từ “America, a concise history”- James A.Henretta & David Brody)

Khi Việt Nam trở thành cường quốc (phần 4)

Giải vô địch Đông Nam Á Suzuki AFF Cup thu hút hàng tỉ người hâm mộ túc cầu giáo hồi hộp theo dõi. Giải này thậm chí còn được đánh giá hay hơn cả World Cup vì các đội tuyển khu vực Đông Nam Á đều ở một trình độ rất cao, và có nhiều ứng cử viên nặng kí cho chức vô địch World Cup.

Việt Nam, đương kim vô địch AFF Cup, được kì vọng sẽ bảo vệ được chức vô địch. Tuy nhiên, cuối cùng Việt Nam lại có màn trình diễn đáng thất vọng ở bán kết trước Malaysia để rồi phải dừng bước. Huấn luyện viên Calisto quá thất vọng vì các cầu thủ đã phải thốt lên: “Việt Nam mà đá thế này thì tôi thà về nhà bật kênh K+ xem một trận đấu của đội Real nào đó ở giải Tây Ban Nha còn hơn”. Những người hâm mộ Tây Ban Nha nghe thấy huấn luyện viên danh tiếng Calisto nhắc đến giải vô địch của nước mình thì mừng rơi nước mắt, không ngờ 1 vị huấn luyện viên hàng đầu thế giới như thế cũng cất công theo dõi giải bóng đá của nước mình, chứng tỏ La Liga đã vươn lên một tầm cao mới.

Báo chí Mĩ vừa rồi giật tít Việt Nam đánh giá Mĩ đóng vai trò quan trọng ở châu Mĩ. Đây quả là một điều đáng mừng cho nước Mĩ vì phải như thế nào thì siêu cường Việt Nam mới coi trọng mình như thế chứ.

Trong khi đó, báo chí Đức xôn xao với bài báo “Trẻ mồ côi Đức thành lãnh đạo lớn ở Việt Nam” của tờ Hà Nội mới. Bài báo viết về một đứa trẻ Đức được một cặp vợ chồng người Việt nhận nuôi từ khi mới một tuổi, giờ đây giữ chức Bộ trưởng y tế của Việt Nam. Điều đó chứng tỏ người Đức hoàn toàn có thể thành công nếu được tiếp nhận nền giáo dục tiên tiến của Việt Nam.

Báo chí Úc thì đang ầm ĩ khi một cô người mẫu có tên Miranda Kerr công bố bộ ảnh nude để bảo vệ môi trường. Dư luận mạnh mẽ phê phán cô vì cho rằng đó chỉ là một chiêu đánh bóng tên tuổi chứ chẳng có ý nghĩa bảo vệ môi trường gì, hơn nữa mặc dù việc người Việt Nam vẫn nude để làm từ thiện là chuyện bình thường nhưng đối với người Úc đây vẫn là điều cấm kị. Có người còn nói rằng sở dĩ ở Việt Nam người ta hay nude bảo vệ môi trường vì người ta chụp rất nghệ thuật chứ người Úc nude nhìn chỉ thấy ghê.

Lại nói về nước Mĩ, bộ phim đang làm xôn xao Holywood gần đây là “Bob, don’t be afraid”, dịch ra tiếng Việt là “Bob đừng sợ”. Bộ phim đã đạt doanh thu cao kỉ lục ở Mĩ do đạt giải ở Liên hoan phim Hội An. Tuy nhiên các khán giả Mĩ vào xem phim sau khi ra khỏi rạp đều thấy sợ hãi vì cảm thấy dường như mình không đủ trình độ thưởng thức phim hay sao mà một bộ phim được các giám khảo người Việt đánh giá cao như vậy mà mình lại thấy chán phèo, nhiều chỗ tưởng là phim con heo, quay cả cảnh một thằng đứng đái bậy rất kĩ.